Showing posts with label Steinbeck. Show all posts
Showing posts with label Steinbeck. Show all posts

Thursday, November 22, 2012

Thị trấn Tortilla Flat - Chương 3


Thị trấn Tortilla Flat
John Steinbeck
Người dịch: Lâm Vũ Thao 



Chương 3 

Nọc độc của tài sản tác động tới Pilon như thế nào và cái ác đã tạm thời thắng thế trong chàng ra sao.


Hôm sau Pilon tới sống trong căn nhà bên kia. Căn này giống y hệt căn của Danny, duy chỉ nhỏ hơn. Khắp hiên nhà là hoa hồng dại, có khoảnh sân cỏ mọc rậm rì, có những cây ăn quả cằn cỗi, lâu đời, có hoa phong lữ đỏ - còn trại gà của bà Soto thì ngay bên cạnh.

Danny trở thành một người vĩ đại vì có nhà cho thuê, còn Pilon cũng thăng tiến trên nấc thang xã hội nhờ việc đi thuê nhà.

Không thể nói liệu Danny có mong nhận được món tiền thuê nhà nào không, hay Pilon có tính trả đồng nào không. Nếu có, thì cả hai đều thất vọng. Danny không bao giờ đòi, mà Pilon cũng không bao giờ đề nghị trả.

Hai người bạn thường xuyên gặp gỡ nhau. Hễ Pilon vớ được một bình rượu hay một tảng thịt thì Danny chắc chắn sẽ ghé thăm. Và, nếu Danny may mắn hay tinh khôn cùng một cách như thế, thì Pilon cũng tưng bừng một đêm với chàng. Pilon tội nghiệp ắt sẽ trả tiền thuê nhà nếu có lúc nào chàng có tí tiền, nhưng chàng chẳng bao giờ có - chẳng có tiền đủ lâu để tìm ra Danny. Pilon là người trung thực. Đôi khi chàng lo lắng nghĩ tới lòng tốt của Danny và tình trạng nghèo túng của mình.

Một đêm nọ chàng có một đô la, kiếm được một cách lạ lùng đến nỗi chàng cố quên chuyện ấy ngay lập tức vì sợ ký ức có thể khiến chàng phát điên. Một người đàn ông trước khách sạn San Carlos dúi vào tay chàng một đô la, bảo “Chạy đi mua hộ bốn chai nước ngọt với. Khách sạn hết sạch rồi.” Những chuyện thế này hầu như là những phép mầu, Pilon nghĩ. Người ta nên tin ngay những chuyện ấy, chớ có lo lắng, hỏi han gì.. Chàng cầm một đô la lên đường để đưa cho Danny, nhưng giữa chừng chàng mua một ga lông rượu, và với chỗ rượu ấy chàng dụ được hai cô gái mũm mĩm vào nhà mình.

Danny, lúc ấy đi ngang, nghe tiếng ồn ào vui vẻ bèn tiến vào. Pilon ngã nhào vào cánh tay chàng và dâng hết mọi thứ cho Danny xử lý. Sau đó, khi Danny đã giúp xử lý một trong hai cô gái và nửa chỗ rượu vang, một vụ ẩu đả thực sự ngoạn mục xảy ra. Danny mất một cái răng, còn áo Pilon bị xé toạc. Hai cô gái đứng cạnh thét lên the thé, đá loạn xạ bất cứ người nào ngã xuống. Cuối cùng Danny đứng dậy được và húc vào bụng một trong cô gái, cô nàng văng ra cửa kêu ốp ốp như một con ếch. Còn cô kia chôm hai cái xoong rồi theo gót cô trước.

Cả một đỗi sau, Danny và Pilon khóc lóc trước sự bội bạc của đàn bà.
“Huynh không biết bọn đàn bà gian ngoan thế nào đâu,” Danny nói với vẻ thông thái.
“Tôi biết thừa,” Pilon nói.
“Huynh không biết.”
“Tôi biết thừa.”
“Bốc phét.”
Thêm một vụ ẩu đả nữa nổ ra, lần này thì không mấy ngoạn mục.

Sau chuyện đó, Pilon cảm thấy ổn hơn khi nghĩ tới khoản tiền thuê nhà không trả. Chẳng phải chàng đã tiếp đãi rất tử tế chủ nhà của chàng sao?

Một vài tháng trôi qua. Pilon lại bắt đầu lo lắng về tiền thuê nhà. Càng ngày, nỗi âu lo càng trở nên không chịu đựng nổi. Cuối cùng, trong tuyệt vọng, chàng rửa mực ống cho lão Chin Kee suốt một ngày và được trả hai đô la. Tối đến chàng cột cái khăn tay đỏ của mình quanh cổ, đội cái mũ đáng kính của cha mình và bắt đầu leo lên đồi để trả hai đô la còn nợ cho Danny.

Nhưng trên đường đi chàng mua hai ga lông rượu. “Thế này sẽ hay hơn đấy,” chàng nghĩ bụng. “Nếu mình đưa hắn tiền mặt thì sẽ không thể hiện mình cảm thấy tình bạn bè nồng ấm thế nào. Nhưng một món quà thì có. Và mình sẽ bảo hắn hai ga lông này hết năm đô la.” Chuyện này thật ngớ ngẩn, Pilon biết điều đó, nhưng chàng tự phỉnh phờ mình. Chẳng ai ở Monterey này rành giá rượu hơn Danny.

Pilon lâng lâng tiến bước. Lòng chàng đã quyết; mũi chàng hướng thẳng về phía nhà Danny. Chân chàng chuyển động, không nhanh, nhưng đều đặn, đúng hướng. Mỗi cánh tay chàng xách một túi giấy, trong mỗi túi là một ga lông rượu.

Hoàng hôn tim tím, đó là thời khắc ngọt ngào khi giấc ngủ ngày đã qua, và buổi tối của hoan lạc và hàn huyên chưa bắt đầu. Những thân cây thông in hình rất sẫm trên nền trời, và bóng tối che khuất mọi đồ vật trên mặt đất; nhưng bầu trời lại sáng rỡ thảm sầu như ký ức. Lũ mòng lười nhác bay về tổ từ những mỏm đá ngoài biển sau một ngày thăm viếng các nhà máy cá hộp vùng Monterey.
Pilon là người yêu cái đẹp và tin vào sự thần bí. Chàng ngước mặt lên trời, linh hồn chàng rời bỏ thân thể bay bổng nhập vào ánh tà dương. Chàng Pilon không quá hoàn hảo đó -  kẻ lắm toan tính và hay đánh lộn, kẻ thường say xỉn và ưa nguyền rủa – tiếp tục chậm chạp lê bước; nhưng còn một Pilon trâm thầm và sáng láng lại bay lên cùng lũ mòng biển, nơi chúng tắm trên những đôi cánh thiên thần mong manh vào buổi tối. Chàng Pilon đó đẹp đẽ, và ý nghĩ của chàng không mang chút tỳ vết ích kỷ hay dục vọng nào. Những tư tưởng của chàng đáng được biết đến.

“Đức Chúa Cha của chúng ta đang ngự trong buổi tối này,” chàng nghĩ. “Những cánh chim này bay ngang vầng trán đức Cha. Ôi chim thân yêu, ôi mòng biển thân yêu, ta yêu các ngươi biết bao. Những đôi cánh khoan thai của các ngươi vỗ về lòng ta như bàn tay của một ông chủ dịu dàng vỗ về cái bụng căng đầy của một con chó đang ngủ, như bàn tay của Đức Ki-tô vỗ về những mái đầu trẻ nhỏ. Ôi chim thân yêu,” chàng nghĩ, “hãy bay về với Đức Mẹ Phiền Muộn Ngọt Ngào cùng với trái tim rộng mở của ta.” Và rồi chàng thốt lên những lời đáng yêu nhất chàng biết, “Ave Maria, gratia plena[1]-”

Đôi chân của chàng Pilon xấu xa đã thôi chuyển dịch. Sự thật là chàng Pilon xấu trong giây phút ấy đã ngừng tồn tại. (Hãy nghe điều này, hỡi vị thiên thần đang nghiêng tai theo dõi!) Xưa không có, nay không có, và chưa bao giờ có một linh hồn nào tinh khiết hơn linh hồn của Pilon ở giây phút đó. Con chó trâu xấu xa của Galvez đến bên cặp giò bỏ ngỏ của Pilon trong bóng tối. Nhưng nó chỉ ngửi ngửi rồi bỏ đi mà không đớp cặp giò đó.

Một linh hồn đã được gột rửa và cứu rỗi là một linh hồn gặp nguy hiểm gấp đôi, vì mọi sự trong thế gian đều âm mưu chống lại một linh hồn như thế. Thánh Augustine nói, “Ngay cả những cọng rơm dưới đầu gối ta cũng la hét để khiến ta xao lãng việc cầu nguyện.”

Linh hồn của Pilon lại không hề được trang bị để chống lại trí nhớ của chính chàng; vì, trong lúc ngắm lũ chim, chàng nhớ ra rằng bà Pastano thỉnh thoảng sử dụng mòng biển để làm món tamale[2] của bà, và ký ức đó khiến chàng đói bụng, và cơn đói làm linh hồn chàng ngã nhào khỏi bầu trời. Pilon đi tiếp, một lần nữa chàng lại là một sự trộn lẫn khéo léo giữa cái thiện và cái ác. Con chó trâu xấu xa của Galvez gầm gừ lởn vởn quanh chàng, nuối tiếc vì đã bỏ qua một cơ hội hoàn hảo để đợp giò Pilon

Pilon khuỳnh tay cho mấy cái chai bớt nặng.

Có một thực tế đã được xác thực và ghi nhận trong nhiều câu chuyện; đó là linh hồn nào có khả năng làm những điều thiện vĩ đại nhất thì cũng có thể làm những điều ác vĩ đại nhất. Có ai báng bổ Chúa hơn một linh mục vừa bị rút phép thông công? Còn ai ham nhục dục hơn một kẻ mới đó hãy còn trinh? Tuy nhiên, nhìn bề ngoài thì khó mà biết được điều này.

Pilon, mới từ Thiên đàng trở về, mặc dù chàng không hay biết điều đó, một mình hứng chịu những cơn gió rét buốt, phơi mình trước tất cả những lực lượng hắc ám đầy rẫy trong màn đêm vây quanh chàng. Đúng, chân chàng vẫn di chuyển về phía nhà Danny, nhưng những thành ý và sự quyết tâm thì đã biến mất. Đôi chân chàng chỉ chờ đợi cơ hội nhỏ nhặt nhất để trở bước. Pilon đã bắt đầu nghĩ tới chuyện với hai ga lông rượu thì chàng có thể say xỉn kỳ tuyệt thế nào; chưa kể, chàng còn có thể say rất lâu với hai ga long ấy.

Trời đã sâm sẩm tối. Không còn nhìn thấy con đường đất hay hai con mương hai bên vệ đường. Cũng chẳng thể trách ai khi vào đúng cái giờ khắc mà những manh nha toan tính của Pilon đang chấp chới như một cái lông chim giữa một bên là lòng hào hiệp và bên kia là sự ích kỷ, thì vào đúng cái giờ khắc ấy Pablo Sanchez lại tình cờ ngồi dưới con mương bên vệ đường ước ao có một điếu thuốc và một ly rượu.

Ôi chao, triệu triệu con chiên, họ phải chiến đấu khổ sở với nhau như thế nào mới đến được bên ngai vàng của Chúa.

Thoạt tiên Pablo nghe tiếng chân, rồi thấy một dáng người nhờ nhờ, và nhận ra Pilon. “Này, amigo,” chàng nồng nhiệt gọi. “Chẳng hay huynh mang gì mà nặng thế?”

Pilon đứng sững lại, quay mặt về phía con mương. “Tôi tưởng huynh ở tù,” chàng nghiêm nghị nói. “Tôi nghe nói chuyện con ngỗng.”
“Thì tôi có ở tù mà, Pilon,” Pablo vui vẻ nói. “Nhưng tôi không được đón tiếp tử tế lắm. Quan tòa bảo vào tù chẳng ích gì cho tôi, còn cảnh sát nói tôi ăn nhiều hơn suất của ba người. Và thế là,” chàng tự hào kết thúc, “tôi được tại ngoại”.

Pilon được giải cứu khỏi sự ích kỷ. Đúng chàng không mang rượu đến nhà Danny, nhưng ngay lập tức chàng mời Pablo chia sẻ chỗ rượu đó ở căn nhà thuê. Nếu có hai lối đi rộng rãi rẽ ra từ chính lộ của cuộc đời mà ta chỉ có thể chọn một, thì ai dám nói chắc lối nào tốt hơn?

Pilon và Pablo khấp khởi bước vào căn nhà nhỏ. Pilon thắp một ngọn nến và lấy hai hũ trái cây để làm ly.
“Chúc sức khỏe!” Pablo nói.
“Salud![3]” Pilon nói.
Và vài khắc sau, “Salud!” Pablo nói.
“Cạn chén nào!” Pilon nói.
Họ nghỉ một lúc. “Chén nữa nhé,” Pilon nói.
“Trăm phần trăm,” Pablo đáp.

Hai ga lông là rất nhiều rượu, kể cả đối với hai chàng paisano. Về mặt tinh thần bình rượu có thể chia thành các nấc thang như sau: Ngay dưới cổ chai thứ nhất, đối thoại nghiêm túc và tập trung. Xuống thêm năm phân, ký ức buồn dịu ngọt. Tám phân nữa, suy ngẫm về những mối tình đã qua và có hậu. Thêm hai phân rưỡi, suy ngẫm về những mối tình đã qua và cay đắng. Đáy bình thứ nhất, buồn bã vẩn vơ không định hướng. Cổ bình thứ hai, chán chường đen tối, báng bổ. Xuống hai ngón tay nữa, bài ca chết chóc hoặc sự hoài vọng. Thêm một ngón tay cái, bất cứ bài ca còn lại nào mà một trong hai người thuộc. Cầu thang dừng ở đây vì lúc này con đường sẽ rẽ đôi và không ai biết chắc cái gì sẽ xảy ra. Kể từ điểm này bất cứ chuyện gì cũng có thể.

Nhưng ta hãy quay lại nấc thang đầu tiên, chỗ còn đối thoại nghiêm túc và tập trung, vì Pilon ra đòn chính ở chỗ đó.
“Pablo,” chàng nói, “chẳng lẽ huynh không bao giờ chán cảnh ngủ vất vưởng dưới cống, ướt át và vô gia cư, không bằng hữu và cô độc?”
“Không,” Pablo nói.

Pilon dịu giọng thuyết phục. “Tôi cũng từng nghĩ y như vậy, bạn thân mến ạ; khi tôi còn là một kẻ cầu bất cầu bơ, tôi cũng hài lòng như huynh, vì tôi không hề biết rằng có một căn nhà nhỏ, có mái nhà trên đầu, và một cái vườn thì sung sướng đến dường nào. Pablo ôi, thế này mới thật là sống.”
“Cũng khá hay,” Pablo đồng ý.

Pilon dấn tới. “Thấy chưa, Pablo, huynh có muốn thuê một phần nhà của tôi không? Huynh sẽ không còn phải nằm trên sàn đất lạnh lẽo nữa. Cát thô dưới cầu cảng cùng với những cua còng sẽ không bao giờ chui vào giày của huynh nữa. Huynh có muốn chuyển tới đây sống cùng tôi không?”
“Cũng được” Pablo nói.
“Xem nào, huynh chỉ phải trả mười lăm đô một tháng! Và huynh có thể sử dụng toàn bộ cái nhà trừ giường của tôi, và toàn bộ khu vườn. Nghĩ mà xem, Pablo. Và nếu có ai đó muốn gửi huynh một bức thư, người ấy sẽ có chỗ để mà gửi thư tới.”
“Ừ”, Pablo nói. “Được đấy.”

Pilon thở ra nhẹ nhõm. Đến giờ chàng mới nhận ra gánh nợ đối với Danny đã trĩu trên vai mình thế nào. Mặc dầu chàng gần như chắn chắn rằng Pablo sẽ chẳng bao giờ trả đồng tiền thuê nhà nào nhưng việc ấy không làm sứt mẻ thắng lợi của chàng. Nếu Danny có đòi tiền, Pilon có thể nói, “Tôi sẽ trả tiền, khi nào Pablo trả.”

Họ chuyển tới nấc thang kế tiếp và Pilon nhớ khi còn là một cậu bé con chàng đã hạnh phúc như thế nào. “Hồi ấy chẳng có gì phải lo lắng, Pablo ạ. Tôi không biết đến tội lỗi. Tôi vui sướng làm sao.”
“Kể từ lúc đó chúng ta chưa bao giờ vui sướng,” Pablo buồn bã đồng ý.



[1] “Lạy đức mẹ Maria lòng lành” (tiếng Tây Ban Nha).
[2] Một món ăn Mexico làm từ thịt băm, gói trong lớp áo bắp ngô, rồi hấp lên.
[3] Chúc sức khỏe (tiếng Tây Ban Nha).

Monday, November 19, 2012

Thị trấn Tortilla Flat - Vào truyện





Đây là câu chuyện kể về Danny, về những người bạn của Danny và về ngôi nhà của Danny. Nó là chuyện làm thế nào mà ba yếu tố này hợp thành một, cho nên ở thị trấn Tortilla Flat nếu bạn nói tới nhà của Danny thì không có nghĩa là bạn nói về một kết cấu bằng gỗ lốm đốm vôi bạc thếch, có cội hoa hồng dại rậm rạp um tùm. Không phải vậy, khi nói tới nhà của Danny người ta biết là bạn đang nói về một chỉnh thể hợp thành từ những con người, từ ấy sinh ra sự ngọt ngào và sướng vui, lòng nhân ái và cuối cùng là một nỗi sầu bí ẩn. Bởi vì nhà của Danny không phải là không giống chiếc Bàn Tròn, và các bạn của Danny cũng không phải là không giống các Hiệp Sĩ Bàn Tròn. Đây cũng là câu chuyện về việc nhóm bạn này đã hình thành như thế nào, đã đâm hoa kết trái thành một tổ chức đẹp đẽ và khôn ngoan ra sao. Câu chuyện xoay quanh những chuyến phiêu lưu của các bạn của Danny, những việc thiện họ làm, cùng bao suy nghĩ và nỗ lực của họ. Cuối cùng, câu chuyện kể lại việc linh hồn của nhóm đã mất đi thế nào và nhóm đi đến chỗ tan rã ra sao.

Ở Monterey, thành phố cổ kính miệt duyên hải California ấy, ai cũng biết những chuyện này, chúng được kể đi kể lại nhiều lần, đôi khi còn được thêm thắt. Đã đến lúc câu chuyện truyền kỳ này nên được chép lại để trong tương lai các học giả, những người chỉ nghe phong thanh về các huyền thoại này, không thể nào tuyên bố như họ từng tuyên bố về Vua Arthur, về  Roland, hay Robin Hood - “Làm quái gì có Danny, làm quái gì có những người bạn của Danny, mà cũng chẳng có ngôi nhà nào cả. Danny là một vị thần thiên nhiên còn các bạn của Danny là biểu tượng nguyên thủy của gió, bầu trời và mặt trời”. Lịch sử này phải được chỉnh đốn ngay bây giờ và cho muôn đời để các học giả chua ngoa không thể buông lời mỉa mai khinh thị.

Monterey tọa lạc trên sườn một ngọn đồi, phía dưới là vịnh xanh biếc, còn sau lưng là rừng thông với những thân cây cao sẫm màu. Mạn dưới chân đồi là nơi sinh sống của người Mỹ, người Ý, những người đánh bắt và đóng hộp cá. Nhưng trên đồi nơi rừng và phố đan xen, nơi những con đường không biết tới nhựa đường và các góc phố vắng bóng đèn xanh đỏ, các cư dân cố cựu của Monterey cư ngụ như người Anh bản địa xưa cố thủ tại xứ Wales. Họ là các paisano.

Họ sống trong những căn nhà gỗ cũ kỹ dựng trong những cái sân đầy cỏ dại, quanh nhà thấp thoáng bóng thông rừng. Các paisano hãy còn chưa dính đến chủ nghĩa thương mại, chưa vướng víu vào các hệ thống kinh doanh rối rắm của Mỹ, và họ chẳng có gì để có thể bị đánh cắp, khai thác hoặc thế chấp, cái hệ thống ấy chưa tấn công họ mạnh mẽ lắm.

Paisano là ai? Một paisano là là một người mang dòng máu lai giữa người Tây Ban Nha, người da đỏ, người Mexico và đủ thứ dòng máu da trắng. Tổ tiên anh ta đã sống ở California hơn một hay hai trăm năm. Anh ta nói tiếng Anh giọng paisano và nói tiếng Tây Ban Nha cũng giọng paisano. Khi bị chất vấn về chủng tộc, anh ta phẫn nộ tuyên bố mình mang dòng máu Tây Ban Nha thuần khiết và xắn tay áo lên cho người ta xem phần thịt mềm phía trong cánh tay mình gần như có màu trắng. Màu da anh, giống như màu của một cái tẩu thuốc nâu sánh lên, anh đổ tại cháy nắng. Một paisano là như thế và anh ta sống ở cái thị trấn nằm trên sườn đồivề mạn phía trên của Monterey tên là Tortilla Flat, tức Tortilla-bằng-phẳng, mặc dù nó chẳng bằng phẳng chút nào.

Danny là một paisano, chàng lớn lên ở Tortilla Flat, mọi người ai cũng yêu quý chàng, nhưng chàng cũng không đặc biệt nổi bật trong đám trẻ con huyên náo của Tortilla Flat. Chàng có quan hệ máu mủ hoặc yêu đương với gần hết mọi người trong thị trấn. Ông nội chàng là người có địa vị; ông sở hữu hai căn nhà nhỏ ở Tortilla Flat và được mọi người kính trọng vì giàu có. Nếu có những lúc chàng thanh niên mới lớn Danny ưa ngủ trong rừng, làm thuê trong các trang trại chăn nuôi, và vất vả kiếm đồ ăn với rượu uống từ một thế giới chẳng mấy thân thiện, thì chẳng phải là vì chàng không có lấy những người bà con giàu ảnh hưởng. Danny nhỏ con, da ngăm ngăm và sôi nổi. Ở tuổi hai lăm cặp giò chàng cong hệt như đường cong hai bên hông ngựa.

Bấy giờ, khi Danny hai mươi lăm tuổi, người ta đã tuyên chiến với Đức. Lúc nghe tin chiến tranh, Danny cùng với bạn mình là Pilon đang có hai ga lông[1] rượu vang (nhân tiện, Pilon là thứ người ta quẳng thêm vào khi gút một thương vụ - một chiếc giày chẳng hạn). Joe Voi, anh chàng người Bồ, thấy ánh lấp lánh của mấy cái chai giữa đám thông và thế là chàng nhập bọn với Danny và Pilon. 

Rượu trong chai vơi đi thì lòng ái quốc của ba chàng bốc lên nghi ngút. Và khi rượu cạn thì họ khoác tay nhau, vì tình thân hữu và vì sự an toàn, đi xuống đồi, rồi cuốc bộ vào Monterey. Trước một trạm đăng lính họ ầm ĩ tung hô nước Mỹ và thách thức nước Đức. Họ hú hét đe dọa Đế quốc Đức cho tới khi viên trung sĩ có nhiệm vụ ghi danh lính thức giấc tròng quân phục vào rồi bước ra đường yêu cầu họ im lặng. Anh ta ở lại đó ghi danh cho họ.

Viên trung sĩ bắt họ xếp hàng trước bàn mình. Họ vượt qua mọi bài kiểm tra trừ bài về độ tỉnh táo và rồi viên trung sĩ bắt đầu hỏi Pilon.
“Anh muốn sung vào ngành nào?”
“Ngành quái nào chả được,” Pilon tự tin nói.
“Tôi đồ là chúng tôi cần người như anh bên bộ binh.” Và Pilon được ghi vào bộ binh.
Rồi anh ta quay sang Joe Voi, khi đó anh người Bồ đang tỉnh ra. “Anh muốn vào đâu?”
“Tôi muốn về nhà,” Joe Voi rầu rĩ nói.
Viên trung sĩ cũng ghi cho chàng vào bộ binh. Cuối cùng, anh ta khua Danny, lúc đó đang ngủ gục dưới chân anh. “Anh muốn vào đâu?”
“Hử?”
“Ý tôi nói là, ngành nào?”
“ ‘Ngành’, ý anh là sao?”
“Anh biết làm gì?”
“Tôi ấy à? Gì tôi cũng làm được.”
“Trước đây anh làm gì?”
“Tôi ấy à? Tôi chăn la.”
“Ồ, thế à? Anh có thể chăn được bao nhiêu con la?”
Danny chồm người tới trước, hỏi một cách vừa mơ hồ vừa chuyên nghiệp. “Các anh có bao nhiêu con?”
“Khoảng ba chục nghìn,” viên trung sĩ nói.
Danny phẩy tay. “Thắng hết chúng lại!” chàng đáp.
Thế là Danny đi Texas huấn luyện la trong suốt thời gian chiến tranh. Pilon thì hành quân quanh vùng Oregon cùng bộ binh, còn Joe Voi, như sau sẽ được làm rõ, đi tù.




[1]  Một ga lông (gallon) tương đương 3,78 lít. (Tất cả chú thích trong sách là của người dịch.)



Note: Ảnh minh họa tôi chụp ở trên phố chính của Monterey năm ngoái. Chủ yếu vì cái hình John Steinbeck bên ngoài cửa hàng này.

Thursday, March 08, 2012

Hành trình nước Mỹ - phần 2

Phần 1

Dưới tán cây sồi lớn ở chỗ tôi tại Sag Harbor, Rocinante đang “an tọa”, bảnh bao và tự tại. Những người hàng xóm đến thăm nó, một số người tôi chẳng hề quen biết. Tôi thấy trong mắt họ điều mà tôi thấy đi thấy lại nhiều lần ở mọi nơi trên đất nước này: một khát vọng cháy bỏng được ra đi, được di chuyển, được lên đường, đến bất cứ nơi đâu, miễn là xa khỏi cái Chốn Này của họ. Họ thì thầm với nhau rằng họ ước sẽ ra đi vào một ngày nào đó. Một cách tự do, không có gì níu giữ, không hướng về nơi nào mà là rời xa khỏi chốn nào. Tôi thấy những ánh mắt ấy và nghe những lời ao ước ấy ở bất cứ bang nào mà tôi đã đi qua. Hầu như tất cả mọi người Mỹ đều thèm khát ra đi. Một cậu bé chừng mười ba tuổi ngày nào cũng ghé qua. Nó bẽn lẽn đứng cách xa, dõi mắt nhìn Rocinante. Nó đăm đăm nhìn cánh cửa, nằm cả xuống đất để ngắm nghía bộ nhíp khỏe khoắn. Một cậu nhóc thật lặng lẽ và dai dẳng. Nó đến cả vào ban đêm để ngắm nghía Rocinante. Sau một tuần lễ, nó chịu đựng hết nổi nữa. Những lời lẽ của nó liều lĩnh đánh vật để thoát khỏi sự thẹn thùng. Nó nói, “Nếu bác cho cháu đi theo, cháu sẽ làm mọi thứ. Cháu sẽ nấu nướng, rửa hết chén đĩa, làm tất tật mọi việc và cháu sẽ chăm sóc bác”.

Rủi thay tôi lại biết rõ nỗi khát khao của nó. Tôi nói, “Bác cũng muốn lắm chứ. Nhưng ban giám hiệu nhà trường và cha mẹ cháu và nhiều người khác nữa sẽ không cho phép bác”.

“Cháu sẽ làm mọi việc”, nó nói. Và tôi cũng tin là như thế. Tôi nghĩ nó sẽ chẳng bỏ cuộc cho đến khi tôi lái xe đi mà không mang theo nó. Nó có giấc mơ mà tôi đã có trong suốt cả cuộc đời, và giấc mơ đó không cách nào chữa trị được.

Trang bị cho Rocinante là cả một quá trình lâu la và thú vị. Tôi mang theo quá nhiều thứ mà không biết thực ra mình cần những thứ gì. Đồ nghề cho những lúc khẩn cấp, tời, một chiếc ròng rọc, một chiếc xẻng và một cây xà-beng để làm, để sửa hay để chế ra thứ gì đó. Rồi đến thực phẩm cho tình trạng khẩn cấp. Tôi có thể đi khuya ở vùng Tây Bắc và bị mắc kẹt trong tuyết. Tôi chuẩn bị cho ít nhất một tuần lễ gặp nạn. Nước thì dễ rồi: Rocinante có một bồn chứa đến một trăm mười bốn lít.

Tôi nghĩ tôi sẽ viết lách gì đó dọc đường, có lẽ là những bài tiểu luận, chắc chắn là những ghi chép, và dĩ nhiên là những lá thư. Tôi mang theo giấy, giấy than, máy đánh chữ, bút chì, sổ tay. Và không chỉ có thế mà còn cả những cuốn từ điển, một bách khoa toàn thư loại tinh gọn, và một tá những cuốn sách tra cứu khác, những thứ rất nặng. Có vẻ như khả năng tự lừa dối bản thân của chúng ta là không có giới hạn. Tôi biết thừa rằng tôi rất hiếm khi ghi chép, và nếu có ghi đi nữa thì tôi cũng để lạc mất hay không thể đọc được. Từ kinh nghiệm của ba mươi năm làm nghề, tôi cũng thừa biết mình không thể viết về một sự kiện nóng. Tôi phải chờ cho sự kiện đó lên men. Tôi phải làm điều mà các bạn tôi vẫn hay nói là “kềm cương con ngựa” cho đến khi nó dịu đi. Thế mà bất chấp sự hiểu biết về bản thân đó, tôi vẫn cứ trang bị cho Rocinante những vật liệu để viết lách, đủ để tạo ra một bộ sách mười tập. Tôi còn mang theo lượng sách nặng sáu mươi tám ký mà trước đây tôi đã chẳng mấy khi có thời giờ để đọc và dĩ nhiên sắp tới cũng vậy. Thức ăn đóng hộp, bao đựng súng săn, đạn súng trường, những hộp đồ nghề, và quá xá quần áo, chăn gối, quá chừng giày ống, đồ lót nylon chần cho nhiệt độ dưới không, đĩa và ly nhựa cùng một bồn rửa chén bằng nhựa, một két dự trữ khí đốt đóng chai. Những chiếc nhíp bị chất đồ lên cứ hạ xuống thấp dần, thấp dần. Giờ thì tôi ước tính mình đang mang theo nhiều hơn bốn lần mức cần thiết.

Giờ đây, Charley đã trở thành một con chó biết đọc suy nghĩ. Đời nó đã chứng kiến nhiều chuyến du hành, mà thường là nó bị bỏ lại ở nhà. Nó biết lần này sẽ rất lâu trước khi những chiếc va-li xẹp đi. Và thế là nó bắt đầu chạy lăng quăng, lo lắng, rên rỉ, tựa như mắc chứng cuồng loạn thể nhẹ dù nó là một con chó đã già. Trong suốt những tuần lễ chuẩn bị, nó suốt ngày quẩn chân tôi, gây ra những phiền toái chết tiệt. Nó trốn cả vào trong xe, trườn vào đó và cố làm cho ra vẻ nhỏ nhắn lắm vậy.

Lễ Lao động đến gần, ngày trọng đại mà hàng triệu đứa trẻ sẽ từ trường trở về nhà và hàng triệu phụ huynh sẽ rút khỏi các xa lộ. Tôi đã sẵn sàng để lên đường sớm nhất, ngay sau cái ngày đó. Vậy mà vào khoảng thời gian này lại có thông báo rằng bão Donna đang ồ ạt rời biển Caribe tràn về hướng chúng tôi. Ở phần chóp của Long Island, chúng tôi đã quá dày dạn với chuyện này để cảnh giác một cách cao độ. Cơn bão đến gần, chúng tôi chuẩn bị đối phó với một cuộc vây hãm. Cái vịnh bé nhỏ của chúng tôi được bảo vệ khá vững chắc, nhưng cũng chưa đủ để chống bão. Khi Donna trườn đến, tôi đổ đầy dầu vào các cây đèn dầu, gắn chiếc bơm tay vào giếng nước và cột chặt tất cả những thứ gì có thể di chuyển. Tôi có một chiếc tàu ca-bin dài hai mươi mét, chiếc Fayre Eleyne. Tôi đóng các cánh cửa của nó lại, lôi nó ra giữa vịnh, hạ thủy chiếc neo móc khổng lồ kiểu cổ cùng sợi xích mười ba ly, rồi cột cho nó đong đưa một khoảng dài. Với các biện pháp như thế, nó có thể cưỡi một cơn bão có tốc độ gió hai trăm bốn mươi km/h, trừ phi phần mũi của nó bị bứt neo.

Donna tràn tới. Chúng tôi lôi ra chiếc radio dùng pin để nghe tin tức, vì điện có thể bị cúp nếu Donna giáng đòn. Nhưng hãy còn thêm một nỗi lo khác. Đó là Rocinante tọa lạc giữa các cây cao. Trong một cơn ác mộng kinh hoàng, tôi thấy một thân cây đổ lên chiếc xe và đè nó “bẹp gí giống như một con bọ. Tôi bèn lôi nó ra khỏi chỗ có thể bị cây đè, nhưng điều này không có nghĩa là nguyên một ngọn cây không thể bay xa bốn mươi lăm mét và rơi đè lên nó.

Sáng sớm, đài báo cơn bão đang chuẩn bị tới. Đến khoảng mười giờ, đài lại báo mắt bão sẽ đi qua chỗ chúng tôi và nó sẽ đến vào lúc 1giờ 07 phút, chính xác đến vậy đó. Khu vịnh chỗ chúng tôi vẫn tĩnh lặng, không có lấy một gợn sóng, nhưng nước còn đục lắm và chiếc Fayre Eleyne thì vẫn bồng bềnh một cách duyên dáng ở nơi mà nó neo đậu.

Vịnh biển chỗ chúng tôi được che chắn vào hàng tốt nhất nên rất nhiều tàu thuyền nhỏ cũng kéo tới để neo đậu. Tôi lo ngại khi thấy nhiều chủ tàu không biết cách cột tàu. Cuối cùng có hai con tàu đi tới, trông xinh lắm, chiếc nọ dắt chiếc kia. Một chiếc neo nhẹ được thả xuống rồi chúng được bỏ lại, phần mũi của chiếc này được móc vào đuôi của chiếc kia và cả hai nằm trong khoảng đong đưa của Fayre Eleyne. Tôi vớ lấy chiếc loa ở cuối cầu tàu, cất tiếng phản đối sự điên rồ này, nhưng những chủ nhân của chúng hoặc là không nghe thấy, hoặc là không biết, hoặc là chả quan tâm.

Gió ập tới vào lúc đã dự báo, xé mặt nước như xé tấm vải đen. Nó giộng xuống như một quả đấm. Nguyên phần ngọn của một cây sồi đổ ụp xuống, sượt qua ngôi nhà gỗ nơi chúng tôi đang đứng quan sát. Đợt gió to kế tiếp làm bật tung một cửa sổ lớn của ngôi nhà gỗ. Tôi ra sức đóng chúng lại rồi dùng rìu đóng nêm chặn cả phần trên lẫn phần dưới. Điện và điện thoại bị cúp ngay từ đợt gió đầu, đúng như chúng tôi tiên liệu. Và cơn thủy triều cao hai mét rưỡi cũng đã được đoán trước. Chúng tôi quan sát gió càn quét mặt đất và mặt biển như một đàn chó săn từ đâu lao tới. Cây cối chao đảo, ngả nghiêng như ngọn cỏ, và mặt nước bị quất đập làm dậy lên cả một màn sương bọt nước. Một con tàu bị bứt dây, trôi tuột lên bờ, rồi tiếp đến là con tàu thứ hai. Những ngôi nhà xây vào mùa xuân tốt lành và đầu mùa hạ đón nhận những cơn sóng đập vào các cửa sổ tầng hai. Ngôi nhà gỗ của chúng tôi nằm trên ngọn đồi nhỏ cách mặt nước đến hơn chín mét. Nhưng ngọn triều dâng vẫn nhấn chìm cầu tàu của tôi. Khi gió đổi hướng, tôi dời Rocinante sang chỗ khác để tránh cho nó nằm dưới hướng gió thổi qua các cây sồi lớn. Chiếc Fayre Eleyne vẫn lịch lãm nổi bồng bềnh, đong đưa như chiếc chong chóng gió xuôi theo những cơn gió đổi chiều. Lúc này thì các con tàu cột vào nhau đang nhộn nhạo cả lên, dây thừng dưới chân vịt và bánh lái cứ va đập và cọ sát vào hai thân tàu. Một con tàu khác lôi chiếc neo của nó trèo lên tận bờ biển sình lầy.

Chó Charley chẳng thể hiện cảm xúc nào. Tiếng súng hay tiếng sấm, tiếng nổ hay tiếng gió rít, nó tuyệt đối chả quan tâm. Giữa cơn bão gầm rú, nó tìm một nơi ấm áp dưới gầm bàn đánh một giấc say sưa.

Gió lặng đi cũng đột ngột như lúc nó bùng lên. Mặc dù sóng vẫn tiếp tục lạc nhịp nhưng chúng không còn bị gió khuấy động, và thủy triều cứ dâng cao, dâng cao lên nữa. Tất cả những cầu tàu quanh chiếc vịnh nhỏ của chúng tôi đều bị nhận chìm dưới nước, chỉ còn nhú lên những chiếc cọc và tay vịn. Sự tĩnh lặng nghe cứ như một âm thanh cuống cuồng. Nhà đài thông báo chúng tôi đang ở trong mắt bão Donna. Sự yên ắng đáng sợ giữa cơn bão quay cuồng. Tôi chẳng biết bao lâu nữa sự tĩnh lặng này mới kết thúc. Có vẻ như sẽ phải còn chờ đợi rất lâu. Và rồi, mé bên kia giáng tới: gió đảo chiều. Chiếc Fayre Eleyne vẫn ngọt ngào đong đưa, hướng mũi về phía gió. Nhưng hai con tàu cột vào nhau đã lôi neo sà tới Fayre Eleyne và móc vào nó. Nó bị lôi đi, cố chống trả hướng gió và bị xô tới một cầu tàu bên cạnh. Chúng tôi nghe được cả tiếng nó kêu réo khi thân của nó bị dồn nén vào những cây cọc bằng gỗ sồi. Lúc này tốc độ gió được ghi nhận là trên 153km/h.

Tôi thấy mình đang chống chọi với gió, chạy bọc ra đầu vịnh, hướng về chiếc cầu tàu nơi các con tàu bị bứt neo đang ùn lại. Hình như vợ tôi – tên cô ấy được tôi dùng để đặt cho con tàu – đang đuổi theo tôi, hét lên ngăn tôi lại. Ván cầu ngập dưới nước một mét hai, nhưng những cây cọc nhú lên vẫn cho tôi chỗ bám tay. Tôi lần từng bước, từng bước, nước lên ngang túi ngực. Gió thổi vào bờ tạt nước vào miệng tôi. Con thuyền của tôi đang khóc lóc, rên rỉ do bị ép vào các cây cọc, và chúi đầu như một con bê khi hoảng sợ. Thế là tôi nhảy và lần mò sao đó leo được lên tàu. Lần đầu tiên trong đời tôi có được con dao đúng vào lúc cần thiết. Hai con tàu ương ngạnh ràng vào nhau đang ép Eleyne vào cầu tàu. Tôi cắt dây neo, dây chằng rồi đạp cho chúng tách ra, và chúng dạt về phía bờ sình lầy. Nhưng sợi xích neo của Eleyne không hề suy suyển, và cái vật bấu bùn cũ kỹ và to lớn kia vẫn nằm ở dưới đó, hơn bốn mươi lăm ký thép với những càng hình mũi giáo rộng như những chiếc xẻng.

Máy tàu của Eleyne không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn, nhưng ngày hôm đó chỉ mới vừa chạm vào là nó đã chạy. Tôi giữ máy, đứng trên boong, tay trái với vào trong để cầm lái và điều khiển ga và ly hợp. Và con thuyền này như cũng cố gắng giúp tôi – tôi nghĩ nó cũng hoảng như tôi vậy. Tôi ép được nó đi ra và lôi sợi xích neo lên bằng tay phải. Bình thường tôi khó lòng mà kéo được chiếc neo đó cho dù có dùng cả hai tay. Nhưng lần này thì mọi thứ rất ổn. Tôi khiển được chiếc neo, khiến cho nó lật lên và các ngạnh của nó thoát ra khỏi bùn. Rồi tôi nhấc bổng nó lên khỏi đáy, từ từ xoay mũi về hướng gió và tăng ga. Chúng tôi xoay xở với cơn gió chết tiệt ấy và nhích dần lên. Thật chẳng khác gì lội bì bõm trong món cháo đặc quánh. Ra cách bờ chín mươi mét, tôi thả cho neo chìm xuống, bấu lấy đáy. Fayre Eleyne đã đứng ngay ngắn, mũi nghếch lên. Có vẻ như nó vừa thở phào nhẹ nhõm.

Và thế đấy, tôi đang ở cách bờ chín mươi mét với Donna gào thét ở bên trên như một bầy chó săn ria trắng. Không một chiếc xuồng nào có thể chống chọi lại nó dẫu chỉ trong một phút. Tôi thấy một cành cây trôi ngang qua và đơn giản là nhảy ùm xuống tóm lấy nó. Không có gì nguy hiểm cả. Chỉ cần ngóc đầu lên được là gió sẽ thổi tôi tấp vào bờ, nhưng tôi phải thừa nhận là chiếc ủng cao su kiểu Half-Wellington[1] tôi đang mang sao mà nặng quá chừng. Có lẽ chưa đến ba phút tôi đã đến bờ, nơi nàng Fayre Eleyne kia cùng một người hàng xóm đã chờ sẵn để kéo tôi lên. Chỉ đến khi đó tôi mới bắt đầu run bần bật, nhưng nhìn ra ngoài thấy con thuyền bé bỏng của chúng tôi đang cưỡi sóng tốt và an toàn thì thật là dễ chịu. Hẳn là tôi đã bị bong trật đâu đó khi kéo chiếc mỏ neo bằng một tay, cho nên tôi cần giúp đỡ chút đỉnh khi về nhà. Một ly whisky trên bàn bếp cũng là sự giúp đỡ. Sau này tôi đã thử kéo chiếc neo đó lên bằng một tay nhưng không sao làm được.

Gió lặng đi nhanh chóng, để lại cho chúng tôi một đống hư hao và đổ nát: đường dây điện bị đứt, không có điện thoại trong suốt một tuần. Nhưng Rocinante thì không hề suy suyển.



[1] Một kiểu giày ủng có nguồn gốc từ Anh.