Friday, January 25, 2013

Sunday, January 20, 2013

Ngày ra cuốn Một mình ở châu Âu




"Những người đàn bà, họ không một mình ngẫu nhiên tới Paris, Venice, Rome, Florence…

Họ có thể là sinh viên mới ra trường, muốn đến Paris để viết văn; có thể là người đã đi qua một cuộc hôn nhân, giờ đến đó để nhìn lại; có thể là người bấy lâu vẫn mòn mỏi chờ đợi mối tình lớn của đời mình và mong nó xảy ra ở châu Âu… Hoặc họ có thể, như tác giả của cuốn sách này, đến châu Âu một mình để du lịch như một người không quá khứ, không ràng buộc; và để hỏi những câu hỏi bước ngoặt về tình yêu và hôn nhân…

Cuốn sách này, hơn cả một cuốn du ký về những ngày du ngoạn qua các thánh địa mơ ước ở châu Âu, còn là một hành trình nội tâm xuyên suốt, dai dẳng, và không phải không đau đớn.

Có thể thấy điều đó, dẫu chẳng ở châu Âu một mình."
 




Bên trên là mấy dòng giới thiệu ở bìa sau cuốn Một mình ở châu Âu.

Lẽ ra sách sẽ có mặt ở các nhà sách vào ngày mai, thứ Hai (21/1/2012) nhưng Nhã Nam lùi tới thứ Sáu (25/1).

Ảnh trên chụp quảng trường Thánh Marco ở Venice, bên dưới là vườn Luxembourg ở Paris vào một ngày nắng. Tôi không biết chụp ảnh, chủ yếu thấy cái màu đẹp thì cố ghi lại mà thôi.

Wednesday, January 16, 2013

Sách mới của tôi






Goldmund viết một bài rất tình cảm giới thiệu cuốn sách mới của tôi. You’re a damn good man, hiền huynh.

“Một mình ở châu Âu” là cuốn đầu tiên trong một bộ sách gồm 3 cuốn với tên chung “Bất hạnh là một tài sản”. Sách do Nhã Nam và NXB Trẻ hợp tác xuất bản; sẽ ra mắt vào ngày 21-1.

Khác với các cuốn sách trước của tôi, cuốn này là một cuốn nonfiction, tức là toàn chuyện thật về những ngày tôi đi châu Âu một mình và những thứ quanh nó. Cuốn sách này gọi chúng ra bằng một từ hơi lớn và có thể hơi đáng sợ là “bất hạnh”. Lần này tôi kể chúng bởi vì tôi thấy nỗi sợ bất hạnh là một trong những nỗi sợ hãi phí phạm nhất đời người; thực sự mà nói, bất hạnh không dễ chịu, nhất là lúc ta đang đi qua nó, nhưng nó không đáng sợ đến thế và nó rút cục có thể trở thành tài sản.


Monday, January 07, 2013

Sách cũ và sách mới của tôi

Đợt này cả ba cuốn sách cũ của tôi đều tái bản với bìa mới.

Đây là bìa cuốn Phù Phiếm Truyện (hoạ sỹ là Đỗ Hữu Chí; biên tập là anh Nguyễn Trương Quý)

Đây là bìa cuốn Tiếng Người (bìa cũng của Đỗ Hữu Chí vẽ, biên tập Nguyễn Trương Quý)

Đây là bìa cuốn Nước Mỹ, nước Mỹ (chỉ đổi một chút xíu):

Sách mới thì để mấy hôm nữa tôi sẽ post. Sách đều sẽ ra trước Tết.

Friday, December 07, 2012

Đối đầu


Hôm thứ Ba, tôi giảng buổi cuối cùng của kỳ này. Tuần sau, sinh viên nộp bài cuối khoá nữa là hết học kỳ.

Cuối kỳ nên sinh viên mệt và căng thẳng. Bài vở thì nhiều; các môn thi và bài luận dồn dập; rồi mùa Xmas đang đến, nhiều người nóng lòng muốn về nhà ở bang khác. Thế nên không khí trong lớp rất bồn chồn, bứt rứt; khác hẳn mọi khi. Tôi biết thế, nhưng tôi vẫn cứ bình thường. Sinh viên nổi cáu với nhau trong lúc tranh luận, tôi cứ để sinh viên cãi nhau, rồi tôi bảo:
- Tôi sinh ra ở VN, tôi nhìn thấy conflict nhiều rồi; các em cứ tranh luận đi, tranh luận thật ra ngô ra khoai vào, miễn là công bằng và lịch sự.

Hết giờ, tôi ở lại nói chuyện với mấy sinh viên. Tory bảo tôi:
- Dr. Nguyễn, I love your reaction. "I am from Vietnam," who can argue with that? But you're not a confrontational person, are you?

Ý Tory bảo "cô không phải tạng người thích đối đầu khi có xung đột phải không?". Tôi cười bảo ừ chắc là thế.
- Là cô như thế hay là văn hoá người Việt Nam như thế?

Với người Mỹ, né tránh đối diện với xung đột hiển hiện trước mặt là một điều họ không quen.

Tôi bảo Tory là tại cả hai; nhưng chắc phần nhiều là tại tôi, tại lịch sử cuộc sống của tôi khiến tôi như thế; có những/nhiều vết thương làm cho mình như thế.

Tôi nói, cuộc sống của tôi ở thời điểm hiện tại nhẵn nhụi ở hầu hết các phía, chỉ chừa lại một phía. Đấy là chỗ tôi tập trung toàn bộ sự "đối đầu" của tôi vào; còn những chỗ khác, tôi không quan tâm lắm. Tôi muốn tiết kiệm năng lượng, cho nên tôi nghe đi nghe lại những bản nhạc cũ nếu muốn nghe nhạc, tôi đọc những cuốn sách cũ, tôi nói cả những điều cũ nữa. Chỗ nào có thể thủ tục hoá được, thói quen hoá được là tôi thói quen hoá. Ngày của tôi có lịch đều đặn, tối giản; tôi cũng không mua sắm, tích trữ của cải; tôi set up một số thứ thuộc về tài chính, rồi cứ để mặc nó tự động vận hành, tôi không tốn thời gian quản lý tài chính hay cố gắng làm cho nó phình to ra. Nói chung là rất nhiều sự tự động hoá đến buồn tẻ. Nhưng tôi không sợ sự buồn tẻ ấy, tôi không còn thấy chúng buồn tẻ, nhàm chán.

Tôi không muốn phí thời gian vào việc sợ hãi sự buồn tẻ, nhàm chán.

Bởi vì ở cái phía còn chưa nhẵn nhụi ấy, mọi thứ mở ra vô cùng, không biên giới; tôi thấy mình là một đứa trẻ ở đó, và vũ trụ lớn vô cùng. Lớn đến nỗi tôi không tưởng tượng được 1 đời làm sao có thể tìm hiểu hết (trừ khi bạn may mắn lắm); làm sao còn muốn phí thời gian vào những thứ tô điểm và minh chứng màu mè; làm sao còn có thời gian buồn nản, phiền muộn, ghét bỏ, vân vân?
Tôi cũng biết là không thể tránh khỏi những thứ này; bởi vì thay đổi và không thỏa mãn dường như là hai bản chất của đầu óc con người. Tôi chỉ tiếc cho cái thời gian và năng lượng lãng phí vào chúng.

Nhưng mà sinh viên của tôi cũng đã đúng. Cũng phải học cách đối đầu với những xung đột hiển hiện trực tiếp trước mặt, cho dù bạn có sợ hãi đến mấy.

Friday, November 30, 2012

Thần tượng


Hôm nay tôi soạn giáo án cho học kỳ tới. Đây là lớp thạc sỹ có tên "Hành vi con người trong môi trường xã hội". Ngồi chọn bài cho sinh viên đọc lại nghĩ có một số tên tuổi quay đi quay lại, bởi vì cả đời họ chỉ nghiên cứu một lĩnh vực rất sâu nhưng hay.

Một trong những “thần tượng” của tôi là giáo sư Glen H. Elder ở ĐH North Carolina – Chapel Hill. Ông là người xây dựng lý thuyết “life course development” – về cơ bản, lý thuyết này giải thích ảnh hưởng của thay đổi xã hội đối với đường đời của một cá thể, một nhóm, hoặc cả một thế hệ.

Một người khác là giáo sư hướng dẫn của tôi ở ĐH Chicago – bà Sydney Hans. Sydney được đào tạo ở Cornell và Harvard về tâm lý học phát triển và làm nghiên cứu về thời thơ ấu.

Cả hai đều rất hiền. Riêng với Sydney, tôi còn có nhiều món nợ tình cảm. 

Wednesday, November 28, 2012

Hiện thực

Tư bản chủ nghĩa:


Vẫn phảng phất XHCN.



Thursday, November 22, 2012

Thị trấn Tortilla Flat - Chương 3


Thị trấn Tortilla Flat
John Steinbeck
Người dịch: Lâm Vũ Thao 



Chương 3 

Nọc độc của tài sản tác động tới Pilon như thế nào và cái ác đã tạm thời thắng thế trong chàng ra sao.


Hôm sau Pilon tới sống trong căn nhà bên kia. Căn này giống y hệt căn của Danny, duy chỉ nhỏ hơn. Khắp hiên nhà là hoa hồng dại, có khoảnh sân cỏ mọc rậm rì, có những cây ăn quả cằn cỗi, lâu đời, có hoa phong lữ đỏ - còn trại gà của bà Soto thì ngay bên cạnh.

Danny trở thành một người vĩ đại vì có nhà cho thuê, còn Pilon cũng thăng tiến trên nấc thang xã hội nhờ việc đi thuê nhà.

Không thể nói liệu Danny có mong nhận được món tiền thuê nhà nào không, hay Pilon có tính trả đồng nào không. Nếu có, thì cả hai đều thất vọng. Danny không bao giờ đòi, mà Pilon cũng không bao giờ đề nghị trả.

Hai người bạn thường xuyên gặp gỡ nhau. Hễ Pilon vớ được một bình rượu hay một tảng thịt thì Danny chắc chắn sẽ ghé thăm. Và, nếu Danny may mắn hay tinh khôn cùng một cách như thế, thì Pilon cũng tưng bừng một đêm với chàng. Pilon tội nghiệp ắt sẽ trả tiền thuê nhà nếu có lúc nào chàng có tí tiền, nhưng chàng chẳng bao giờ có - chẳng có tiền đủ lâu để tìm ra Danny. Pilon là người trung thực. Đôi khi chàng lo lắng nghĩ tới lòng tốt của Danny và tình trạng nghèo túng của mình.

Một đêm nọ chàng có một đô la, kiếm được một cách lạ lùng đến nỗi chàng cố quên chuyện ấy ngay lập tức vì sợ ký ức có thể khiến chàng phát điên. Một người đàn ông trước khách sạn San Carlos dúi vào tay chàng một đô la, bảo “Chạy đi mua hộ bốn chai nước ngọt với. Khách sạn hết sạch rồi.” Những chuyện thế này hầu như là những phép mầu, Pilon nghĩ. Người ta nên tin ngay những chuyện ấy, chớ có lo lắng, hỏi han gì.. Chàng cầm một đô la lên đường để đưa cho Danny, nhưng giữa chừng chàng mua một ga lông rượu, và với chỗ rượu ấy chàng dụ được hai cô gái mũm mĩm vào nhà mình.

Danny, lúc ấy đi ngang, nghe tiếng ồn ào vui vẻ bèn tiến vào. Pilon ngã nhào vào cánh tay chàng và dâng hết mọi thứ cho Danny xử lý. Sau đó, khi Danny đã giúp xử lý một trong hai cô gái và nửa chỗ rượu vang, một vụ ẩu đả thực sự ngoạn mục xảy ra. Danny mất một cái răng, còn áo Pilon bị xé toạc. Hai cô gái đứng cạnh thét lên the thé, đá loạn xạ bất cứ người nào ngã xuống. Cuối cùng Danny đứng dậy được và húc vào bụng một trong cô gái, cô nàng văng ra cửa kêu ốp ốp như một con ếch. Còn cô kia chôm hai cái xoong rồi theo gót cô trước.

Cả một đỗi sau, Danny và Pilon khóc lóc trước sự bội bạc của đàn bà.
“Huynh không biết bọn đàn bà gian ngoan thế nào đâu,” Danny nói với vẻ thông thái.
“Tôi biết thừa,” Pilon nói.
“Huynh không biết.”
“Tôi biết thừa.”
“Bốc phét.”
Thêm một vụ ẩu đả nữa nổ ra, lần này thì không mấy ngoạn mục.

Sau chuyện đó, Pilon cảm thấy ổn hơn khi nghĩ tới khoản tiền thuê nhà không trả. Chẳng phải chàng đã tiếp đãi rất tử tế chủ nhà của chàng sao?

Một vài tháng trôi qua. Pilon lại bắt đầu lo lắng về tiền thuê nhà. Càng ngày, nỗi âu lo càng trở nên không chịu đựng nổi. Cuối cùng, trong tuyệt vọng, chàng rửa mực ống cho lão Chin Kee suốt một ngày và được trả hai đô la. Tối đến chàng cột cái khăn tay đỏ của mình quanh cổ, đội cái mũ đáng kính của cha mình và bắt đầu leo lên đồi để trả hai đô la còn nợ cho Danny.

Nhưng trên đường đi chàng mua hai ga lông rượu. “Thế này sẽ hay hơn đấy,” chàng nghĩ bụng. “Nếu mình đưa hắn tiền mặt thì sẽ không thể hiện mình cảm thấy tình bạn bè nồng ấm thế nào. Nhưng một món quà thì có. Và mình sẽ bảo hắn hai ga lông này hết năm đô la.” Chuyện này thật ngớ ngẩn, Pilon biết điều đó, nhưng chàng tự phỉnh phờ mình. Chẳng ai ở Monterey này rành giá rượu hơn Danny.

Pilon lâng lâng tiến bước. Lòng chàng đã quyết; mũi chàng hướng thẳng về phía nhà Danny. Chân chàng chuyển động, không nhanh, nhưng đều đặn, đúng hướng. Mỗi cánh tay chàng xách một túi giấy, trong mỗi túi là một ga lông rượu.

Hoàng hôn tim tím, đó là thời khắc ngọt ngào khi giấc ngủ ngày đã qua, và buổi tối của hoan lạc và hàn huyên chưa bắt đầu. Những thân cây thông in hình rất sẫm trên nền trời, và bóng tối che khuất mọi đồ vật trên mặt đất; nhưng bầu trời lại sáng rỡ thảm sầu như ký ức. Lũ mòng lười nhác bay về tổ từ những mỏm đá ngoài biển sau một ngày thăm viếng các nhà máy cá hộp vùng Monterey.
Pilon là người yêu cái đẹp và tin vào sự thần bí. Chàng ngước mặt lên trời, linh hồn chàng rời bỏ thân thể bay bổng nhập vào ánh tà dương. Chàng Pilon không quá hoàn hảo đó -  kẻ lắm toan tính và hay đánh lộn, kẻ thường say xỉn và ưa nguyền rủa – tiếp tục chậm chạp lê bước; nhưng còn một Pilon trâm thầm và sáng láng lại bay lên cùng lũ mòng biển, nơi chúng tắm trên những đôi cánh thiên thần mong manh vào buổi tối. Chàng Pilon đó đẹp đẽ, và ý nghĩ của chàng không mang chút tỳ vết ích kỷ hay dục vọng nào. Những tư tưởng của chàng đáng được biết đến.

“Đức Chúa Cha của chúng ta đang ngự trong buổi tối này,” chàng nghĩ. “Những cánh chim này bay ngang vầng trán đức Cha. Ôi chim thân yêu, ôi mòng biển thân yêu, ta yêu các ngươi biết bao. Những đôi cánh khoan thai của các ngươi vỗ về lòng ta như bàn tay của một ông chủ dịu dàng vỗ về cái bụng căng đầy của một con chó đang ngủ, như bàn tay của Đức Ki-tô vỗ về những mái đầu trẻ nhỏ. Ôi chim thân yêu,” chàng nghĩ, “hãy bay về với Đức Mẹ Phiền Muộn Ngọt Ngào cùng với trái tim rộng mở của ta.” Và rồi chàng thốt lên những lời đáng yêu nhất chàng biết, “Ave Maria, gratia plena[1]-”

Đôi chân của chàng Pilon xấu xa đã thôi chuyển dịch. Sự thật là chàng Pilon xấu trong giây phút ấy đã ngừng tồn tại. (Hãy nghe điều này, hỡi vị thiên thần đang nghiêng tai theo dõi!) Xưa không có, nay không có, và chưa bao giờ có một linh hồn nào tinh khiết hơn linh hồn của Pilon ở giây phút đó. Con chó trâu xấu xa của Galvez đến bên cặp giò bỏ ngỏ của Pilon trong bóng tối. Nhưng nó chỉ ngửi ngửi rồi bỏ đi mà không đớp cặp giò đó.

Một linh hồn đã được gột rửa và cứu rỗi là một linh hồn gặp nguy hiểm gấp đôi, vì mọi sự trong thế gian đều âm mưu chống lại một linh hồn như thế. Thánh Augustine nói, “Ngay cả những cọng rơm dưới đầu gối ta cũng la hét để khiến ta xao lãng việc cầu nguyện.”

Linh hồn của Pilon lại không hề được trang bị để chống lại trí nhớ của chính chàng; vì, trong lúc ngắm lũ chim, chàng nhớ ra rằng bà Pastano thỉnh thoảng sử dụng mòng biển để làm món tamale[2] của bà, và ký ức đó khiến chàng đói bụng, và cơn đói làm linh hồn chàng ngã nhào khỏi bầu trời. Pilon đi tiếp, một lần nữa chàng lại là một sự trộn lẫn khéo léo giữa cái thiện và cái ác. Con chó trâu xấu xa của Galvez gầm gừ lởn vởn quanh chàng, nuối tiếc vì đã bỏ qua một cơ hội hoàn hảo để đợp giò Pilon

Pilon khuỳnh tay cho mấy cái chai bớt nặng.

Có một thực tế đã được xác thực và ghi nhận trong nhiều câu chuyện; đó là linh hồn nào có khả năng làm những điều thiện vĩ đại nhất thì cũng có thể làm những điều ác vĩ đại nhất. Có ai báng bổ Chúa hơn một linh mục vừa bị rút phép thông công? Còn ai ham nhục dục hơn một kẻ mới đó hãy còn trinh? Tuy nhiên, nhìn bề ngoài thì khó mà biết được điều này.

Pilon, mới từ Thiên đàng trở về, mặc dù chàng không hay biết điều đó, một mình hứng chịu những cơn gió rét buốt, phơi mình trước tất cả những lực lượng hắc ám đầy rẫy trong màn đêm vây quanh chàng. Đúng, chân chàng vẫn di chuyển về phía nhà Danny, nhưng những thành ý và sự quyết tâm thì đã biến mất. Đôi chân chàng chỉ chờ đợi cơ hội nhỏ nhặt nhất để trở bước. Pilon đã bắt đầu nghĩ tới chuyện với hai ga lông rượu thì chàng có thể say xỉn kỳ tuyệt thế nào; chưa kể, chàng còn có thể say rất lâu với hai ga long ấy.

Trời đã sâm sẩm tối. Không còn nhìn thấy con đường đất hay hai con mương hai bên vệ đường. Cũng chẳng thể trách ai khi vào đúng cái giờ khắc mà những manh nha toan tính của Pilon đang chấp chới như một cái lông chim giữa một bên là lòng hào hiệp và bên kia là sự ích kỷ, thì vào đúng cái giờ khắc ấy Pablo Sanchez lại tình cờ ngồi dưới con mương bên vệ đường ước ao có một điếu thuốc và một ly rượu.

Ôi chao, triệu triệu con chiên, họ phải chiến đấu khổ sở với nhau như thế nào mới đến được bên ngai vàng của Chúa.

Thoạt tiên Pablo nghe tiếng chân, rồi thấy một dáng người nhờ nhờ, và nhận ra Pilon. “Này, amigo,” chàng nồng nhiệt gọi. “Chẳng hay huynh mang gì mà nặng thế?”

Pilon đứng sững lại, quay mặt về phía con mương. “Tôi tưởng huynh ở tù,” chàng nghiêm nghị nói. “Tôi nghe nói chuyện con ngỗng.”
“Thì tôi có ở tù mà, Pilon,” Pablo vui vẻ nói. “Nhưng tôi không được đón tiếp tử tế lắm. Quan tòa bảo vào tù chẳng ích gì cho tôi, còn cảnh sát nói tôi ăn nhiều hơn suất của ba người. Và thế là,” chàng tự hào kết thúc, “tôi được tại ngoại”.

Pilon được giải cứu khỏi sự ích kỷ. Đúng chàng không mang rượu đến nhà Danny, nhưng ngay lập tức chàng mời Pablo chia sẻ chỗ rượu đó ở căn nhà thuê. Nếu có hai lối đi rộng rãi rẽ ra từ chính lộ của cuộc đời mà ta chỉ có thể chọn một, thì ai dám nói chắc lối nào tốt hơn?

Pilon và Pablo khấp khởi bước vào căn nhà nhỏ. Pilon thắp một ngọn nến và lấy hai hũ trái cây để làm ly.
“Chúc sức khỏe!” Pablo nói.
“Salud![3]” Pilon nói.
Và vài khắc sau, “Salud!” Pablo nói.
“Cạn chén nào!” Pilon nói.
Họ nghỉ một lúc. “Chén nữa nhé,” Pilon nói.
“Trăm phần trăm,” Pablo đáp.

Hai ga lông là rất nhiều rượu, kể cả đối với hai chàng paisano. Về mặt tinh thần bình rượu có thể chia thành các nấc thang như sau: Ngay dưới cổ chai thứ nhất, đối thoại nghiêm túc và tập trung. Xuống thêm năm phân, ký ức buồn dịu ngọt. Tám phân nữa, suy ngẫm về những mối tình đã qua và có hậu. Thêm hai phân rưỡi, suy ngẫm về những mối tình đã qua và cay đắng. Đáy bình thứ nhất, buồn bã vẩn vơ không định hướng. Cổ bình thứ hai, chán chường đen tối, báng bổ. Xuống hai ngón tay nữa, bài ca chết chóc hoặc sự hoài vọng. Thêm một ngón tay cái, bất cứ bài ca còn lại nào mà một trong hai người thuộc. Cầu thang dừng ở đây vì lúc này con đường sẽ rẽ đôi và không ai biết chắc cái gì sẽ xảy ra. Kể từ điểm này bất cứ chuyện gì cũng có thể.

Nhưng ta hãy quay lại nấc thang đầu tiên, chỗ còn đối thoại nghiêm túc và tập trung, vì Pilon ra đòn chính ở chỗ đó.
“Pablo,” chàng nói, “chẳng lẽ huynh không bao giờ chán cảnh ngủ vất vưởng dưới cống, ướt át và vô gia cư, không bằng hữu và cô độc?”
“Không,” Pablo nói.

Pilon dịu giọng thuyết phục. “Tôi cũng từng nghĩ y như vậy, bạn thân mến ạ; khi tôi còn là một kẻ cầu bất cầu bơ, tôi cũng hài lòng như huynh, vì tôi không hề biết rằng có một căn nhà nhỏ, có mái nhà trên đầu, và một cái vườn thì sung sướng đến dường nào. Pablo ôi, thế này mới thật là sống.”
“Cũng khá hay,” Pablo đồng ý.

Pilon dấn tới. “Thấy chưa, Pablo, huynh có muốn thuê một phần nhà của tôi không? Huynh sẽ không còn phải nằm trên sàn đất lạnh lẽo nữa. Cát thô dưới cầu cảng cùng với những cua còng sẽ không bao giờ chui vào giày của huynh nữa. Huynh có muốn chuyển tới đây sống cùng tôi không?”
“Cũng được” Pablo nói.
“Xem nào, huynh chỉ phải trả mười lăm đô một tháng! Và huynh có thể sử dụng toàn bộ cái nhà trừ giường của tôi, và toàn bộ khu vườn. Nghĩ mà xem, Pablo. Và nếu có ai đó muốn gửi huynh một bức thư, người ấy sẽ có chỗ để mà gửi thư tới.”
“Ừ”, Pablo nói. “Được đấy.”

Pilon thở ra nhẹ nhõm. Đến giờ chàng mới nhận ra gánh nợ đối với Danny đã trĩu trên vai mình thế nào. Mặc dầu chàng gần như chắn chắn rằng Pablo sẽ chẳng bao giờ trả đồng tiền thuê nhà nào nhưng việc ấy không làm sứt mẻ thắng lợi của chàng. Nếu Danny có đòi tiền, Pilon có thể nói, “Tôi sẽ trả tiền, khi nào Pablo trả.”

Họ chuyển tới nấc thang kế tiếp và Pilon nhớ khi còn là một cậu bé con chàng đã hạnh phúc như thế nào. “Hồi ấy chẳng có gì phải lo lắng, Pablo ạ. Tôi không biết đến tội lỗi. Tôi vui sướng làm sao.”
“Kể từ lúc đó chúng ta chưa bao giờ vui sướng,” Pablo buồn bã đồng ý.



[1] “Lạy đức mẹ Maria lòng lành” (tiếng Tây Ban Nha).
[2] Một món ăn Mexico làm từ thịt băm, gói trong lớp áo bắp ngô, rồi hấp lên.
[3] Chúc sức khỏe (tiếng Tây Ban Nha).