Showing posts with label crazy_talk. Show all posts
Showing posts with label crazy_talk. Show all posts

Saturday, January 11, 2014

2014



Năm nay tôi đón Giáng Sinh và năm mới ở Nhật; năm ngoái ở Costa Rica, và năm trước nữa thì ở Hawaii.

Ở Hawaii, tôi không làm gì ngoài ăn và nằm trên bãi biển. Ở Costa Rica đại loại cũng vậy. Ở Nhật thì lạnh, suốt ngày đi bộ, và ngày đầu năm mới, tôi vẫn ngồi trong một quán cà phê ở khu Roppongi của Tokyo viết grant từ sáng đến tối mịt. Trong 3 chuyến đi của 3 năm, chuyến đi năm nay thảnh thơi nhất và tôi thích nhất. Lạnh hay mệt cũng chẳng sao. Không như hai năm trước, tuy nằm sưởi nắng đọc sách, trông có vẻ thảnh thơi, mà thực ra quang cảnh trong đầu tôi thì.. alas!

Cái quang cảnh này, năm nay, tôi nhìn thấy trên khuôn mặt những người Nhật ngồi tàu điện ngầm và trên khuôn mặt của cả trăm ngàn teenagers đi lại chật ních khu Harajuku nổi tiếng của Tokyo. Họ ăn mặc lối Harajuku - bây giờ đang là tất dài đen (hoặc chân trần không tất trong trời lạnh), với váy hoặc quần sooc bên ngoài, đi bốt. Phụ kiện rất nhiều - vòng, móng tay, mi mắt giả, nơ, tóc, túi, giày, mũ, khăn, vv... Nhưng thật vô ích. Các phụ kiện ấy - đa phần là rác cả. Vứt được càng nhiều càng tốt. Mà tốt nhất là vứt từ trong đầu. Những thứ ở trong đầu - các tính toán, phóng chiếu, lo lắng bất an, hồi tưởng, ham muốn, thậm chí kiến thức, vv... -  chúng đa phần là rác cả. Tôi nói thế bởi vì tôi đã và vẫn còn đang kinh nghiệm việc mang vác những thứ rác ấy.

Trong những ngày đầu năm này, tôi vừa đi bộ dọc ngang Kyoto và Tokyo vừa vứt dần rác. Càng vứt nhiều càng thấy nhẹ và có cái gì đấy âm ỉ giống tâm trạng một người đang hẹn hò. Thực ra nhà văn thì lúc nào cũng trong tâm trạng hẹn hò - viết sách là âm thầm hẹn hò với mình và với cái đẹp; còn in sách là hẹn hò với bạn đọc. Cuốn Xuyên Mỹ đã xong bản thảo, nhưng tôi còn chờ đến lúc mình sẵn sàng, và để nếu còn rác gì thì vứt nốt.

Người đi đến một cuộc hẹn có khi chuẩn bị trước 2 tiếng, nhưng chỉ tốn 1 tiếng để mặc các thứ lên, nửa tiếng để bỏ bớt ra, và nửa tiếng cuối đi ra đi vào giết thời gian, canh đến giờ khởi hành. Tôi bây giờ cũng đang vừa giết thời gian vừa vứt rác. Nhưng tôi không sốt ruột. Sau 4 cuốn sách, tôi có cảm giác hiểu được bạn đọc của mình. Họ chẳng chờ tôi đâu, họ không hứa gì cả, họ cũng đang làm việc của họ, nhưng họ cũng ngầm hẹn: khi nào tôi đã sẵn sàng kể chuyện của mình, họ sẽ lend me their ears.

Không vội được. Và cũng không thể sợ, khi mà mỗi cuốn sách bản chất là một lời hẹn: tôi sẽ không lãng phí thời gian sống của bạn và bỏ rác vào đầu bạn. Không phải bao giờ một nhà văn cũng giữ được lời hẹn này nhưng không thể không cố gắng.


Shoren-in, một chùa dòng Tịnh Độ Chân Tông ở Kyoto

Kyoto về đêm, dọc bở sông ở khu Gion

Nanzenji - một chùa thiền tông dòng Lâm Tế ở Kyoto


Tokyo

Monday, March 05, 2012

Crazy talk #2: Chỉ có CÁI NÀY thôi

Ghi lại lõm bõm cuộc nói chuyện hôm qua với AJ:

- Em thấy người phương Tây nhìn chung nhìn nhận cuộc sống của con người là một tiến trình phát triển (life course development), trong đó phân ra thành các giai đoạn như ấu thơ - vị thành niên - người lớn - già (childhood - adolescence - adulthood - old age). Về cơ bản, họ coi mỗi giai đoạn này là một giai đoạn riêng biệt vì nó là một sự tái kiến thiết, tái tổ chức (reorganization) lại cơ thể về mặt sinh lý, tâm lý, nhận thức, vv... Nhưng nhìn như vậy rõ ràng có sự khiên cưỡng. Em đang tìm hiểu xem đạo Phật và đạo Hindu quan niệm về vấn đề này thế nào?
- Đạo Phật thì anh không biết nhưng đạo Hindu - mà về cơ bản chắc sẽ giống đạo Phật ở chỗ này - thì nói rằng trước hết không có con người, không có ngã, chỉ có các ngộ nhận... Giống như con búp bê được làm bằng rất nhiều lớp vải quấn thành, nhưng gỡ vải ra thì chẳng có gì ở trong (một đoạn giải thích về ngã, vô ngã, vv...)

Một lúc sau:
- Tất cả chỉ là ảo tưởng (illusion). Nếu tin rằng những điều này là tốt, là thế nọ thế kia, và tin rằng ảo tưởng là đúng thì cũng thế; mà bước ra khỏi ảo tưởng, hiểu rằng nó không có gì cả, thì cũng thế; sống trong hay ngoài ảo tưởng thì cũng thế thôi, vẫn không thoát ra khỏi CÁI NÀY. Chẳng có gì trên đời ngoài CÁI NÀY cả. There only is, nothing else. You can step into or out of the illusion and it doesn't matter from the illusion's viewpoint. You're not going anywhere.
- Thế thì nếu em ở lại đây hoặc chuyển đi chỗ khác cũng chẳng có gì khác nhau?
- Không có gì khác nhau đối với CÁI NÀY.
- Nhưng có khác với em chứ.
- Nhưng em là ai?
- Thế ai đang hỏi em? Ai đang nói chuyện với em? Ai đang nói chuyện với anh?
- Hỏi thế là sai rồi. Nếu em đã bắt đầu hỏi bằng cách tách biệt em và anh, thì là em đã bắt đầu bằng tiền đề sai rồi. Sự chia tách là cái bắt đầu của tất cả các ngộ nhận. Em và anh thực ra không chia cắt, đều vẫn là một, ở trong CÁI NÀY hết, là CÁI NÀY hết. Em có biết cái tích mà ông .... hỏi chuyện đức Phật cái này là thế này hay là thế kia, và đức Phật trả lời "Mah", từ này không phải "Có" mà cũng không phải "Không", vì hỏi thế đã là sai rồi, làm sao trả lời được.
- Thế cái đồng hồ kia cũng không tách rời? (chỉ cái đồng hồ trên tường)
- Cái đồng hồ nào?
- Cả tủ sách kia?
- Tủ sách nào?
- Anh không thể phủ nhận là nó ở kia.
- Thế bây giờ em nhìn cái ngón tay út này (giơ bàn tay ra trước mặt). Nếu anh hỏi em là ngón út này với ngón đeo nhẫn có tách rời nhau không, thì em nói sao?
- Đại loại là tách rời (Sort of)
- Đại loại thôi, đúng không? Em không thể nói nó tách rời vì rõ ràng cả hai nối vào bàn tay; nhưng từ góc độ ngón út thì nó có thể bảo nó có tách rời, còn từ góc độ bàn tay hoặc cả người thì không. Khi em ăn, thì em không ăn vì ngón út, em ăn vì cả cơ thể. Từ góc độ vũ trụ, góc độ của CÁI NÀY, thì em ở đây hay đi chỗ khác cũng được, không có cái gì ra ngoài hay vào trong, tốt lên hay xấu đi khi nhìn từ góc độ toàn thể, vì lúc nào nó cũng luôn ở đây, nó là tất cả; cho nên em không bao giờ nên làm việc gì tốt vì nó tốt CHO EM hay cho ai, mà em chỉ nên làm việc tốt vì VIỆC ĐÓ TỐT (because it's good, not because it's good for you or anyone).
- ờ nhưng em chuyển đi X thì tốt cho nhiều người ở X chứ.
- Người nào? Làm gì có ai ở X?
- Wow, sợ nhỉ, nghĩ mà xem, nếu ta hiểu ra rằng thế giới thực sự không có ai cả, không có "người" nào cả... chỉ toàn những ảo ảnh.
- Thì em vẫn có quyền chọn tin rằng những ảo ảnh là có thật và có nghĩa, cũng không sao cả, vẫn không ra ngoài CÁI NÀY. Em có thể tin rằng có người, có mọi thứ, và sống theo nó, cũng không sao.
- Thế tức là rốt cuộc chẳng có gì làm sao cả (nothing matters)
- Chính xác.
- Mấy cái chuyện kết bạn, hẹn hò, yêu đương, sinh con đẻ cái vv... cũng chẳng làm sao cả.
- Chính xác. Như anh nói, em đứng trong hay đứng ngoài ảo tưởng thì vẫn thế thôi. Làm cũng thế, mà không làm cũng thế; nó không tốt hơn hay xấu đi; nó không thế nào cả... chỉ có mình gán nghĩa khi mình làm hay không làm và khi mình bám vào nó thì mình bắt đầu đau khổ thôi.
- Làm thế nào để biết cái gì đó là tốt?
- Em sẽ biết chứ, vì em chính là CÁI NÀY, kể cả em có biết hay không. Nếu em không cảm thấy sợ thì thường là tốt. Sự sợ hãi là một dấu hiệu cảnh báo tốt. Nếu em làm gì mà em thấy sợ thì nghĩa là em đang làm xáo trộn CÁI NÀY theo một cách không thuận lẽ tự nhiên.

Friday, September 16, 2011

Crazy talk - số 1: Mỳ ống và thịt băm


(Tôi không chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính logic, hoặc sự có nghĩa của các dòng bên dưới đây.)

Tôi và AJ, một người bạn, đang nói chuyện liệu có cuộc sống sau cái chết hay không. AJ thì đã uống rượu trong bữa tối; tôi thì buồn ngủ. AJ là dân khoa học hardcore (học MIT ra), tự nhận mình vô thần. AJ nói rằng afterlife chỉ là một giả thuyết của những người tiền sử ngồi trong hang đá, thấy sấm thì phải nghĩ là có thần sấm. Họ phải nghĩ ra cuộc sống sau cái chết vì nếu không thì sẽ không thể có một ý nghĩa nào cho cuộc sống con người; đấy chỉ là một model và là một model “tiện lợi” khi không có model nào thay thế. Model thay thế duy nhất là model không có cuộc sống sau cái chết, tất cả chỉ là đây và bây giờ; với model này thì nếu ta nhận ra thêm các dữ kiện là đến một thời điểm nào đó, toàn bộ loài người phải bị tiêu diệt, vân vân… như thế thì cuộc sống rất vô nghĩa, model này không convinient và functional cho tồn tại nên người ta không chấp nhận. Chỗ này AJ còn nói đến các phép chứng minh trong sác xuất thống kê: khi bạn có một null hypothesis, bạn làm gì, khi có một alternative hypothesis, bạn làm gì, nhưng tôi sẽ bỏ qua.

AJ hỏi tôi nghĩ thế nào. Tôi nói vì tôi không biết chắc chắn và sẽ không có khả năng biết chắc chắn cho đến lúc tôi chết đi hoặc là cho đến lúc, alas, tôi thành siêu nhân có khả năng quán chiếu toàn bộ sự thật về vũ trụ, cho nên tạm thời tôi không kết luận mà tôi lựa chọn dùng mô hình giải thích của đạo Phật vì khi tôi dùng đạo Phật để giải thích thì thế giới có nghĩa hơn (make sense) – không phải vì tôi cần một ý nghĩa cho cuộc sống của tôi (meaningful – mô hình interpretive), mà vì như thế thì tôi thấy giải thích các kinh nghiệm và nhận thức của tôi một cách hợp lý và trọn vẹn nhất (data fit model).

Sau phần đầu đó thì đến một đoạn nói chuyện kéo dài 2 tiếng xung quanh vấn đề này; tôi còn nhớ được một số thứ thế này:

- AJ, anh có nghĩ là có một sự thật rốt ráo (an absolute truth) về thế giới hay không? Tức là sự thật chân xác, không thể phủ nhận, không phụ thuộc vào ý chí và nhận thức của con người. Ví dụ, Phật nói có một trạng thái gọi là Chân-như, và khi đạt tới Chân-như, ta thấy thế giới-chính-xác-như-nó-là; thế giới là thế, không thể nghĩ bàn.

- Tôi nghĩ là có 2 câu hỏi ở đây mà ta cần phân biệt. Một là câu hỏi có sự thật rốt ráo không (is there an absolute truth?) và hai là có sự thật rốt ráo mà ta có thể biết được hay không (is there a knowable absolute truth?). Với câu hỏi thứ nhất thì tôi nghiêng về khả năng là có, có sự thật đấy; nhưng mà ta sẽ phải trả lời không cho câu hỏi thứ hai; tức là chắc là có sự thật rốt ráo, nhưng ta sẽ không thể biết được.

- Tại sao không?

- Bởi vì làm sao ta biết là ta biết? Làm sao ta biết được đấy là sự thật rốt ráo. Nếu sự thật rốt ráo là cái giải thích được mọi thứ, thì nó là một hệ thống toàn vẹn, hoàn chỉnh; nhưng để biết nó có đúng không thì phải có một hệ thống bên ngoài chứng minh và kiểm nghiệm tính đúng của nó. Mà nếu đã tồn tại một hệ thống bên ngoài, và vận hành theo quy tắc và tính đúng của nó, thì hệ thống kia không thể nào còn rốt ráo được. Cái này là Godel phát biểu và đã chứng minh được trong toán; không thể có một mô hình hoàn thiện (Godel’s incompleteness theorem), không thể luôn chứng minh được một cái gì là đúng.

- Nhưng mà anh nói thế tức là anh vẫn đang vận hành trong khuôn khổ tư duy của con người. Anh đang nói rằng khi ta đề cập đến việc biết, thì phải có một người nhận thức (perceiver), một đối tượng của nhận thức (perceived) và có một cơ chế nối người nhận thức với đối tượng nhận thức, nhưng mà chưa chắc nó là như thế. Có thể có trạng thái nhận thức hoàn toàn không theo con đường như thế, mà người nhận thức và đối tượng nhận thức là một, ví dụ như trong trạng thái Chân-như thì ta và thế giới là một và ở đây, và lúc nào cũng thế, không sinh không diệt, sắc sắc không không (form is emptiness, emptiness is form – đoạn này là tôi nói nhảm, for the sake of the argument)

Sau đó AJ trình bày một đoạn về Godel và Bertrand Russell (analytical philosophy) và Wittgenstein và các lý thuyết liên quan đến câu hỏi: Làm sao biết là mình biết, và làm sao chứng minh một cái gì đó là thật, là nó, là đúng.

- Trong toán học, thì không thể có cái gì vừa là nó lại vừa không là nó – AJ nói – Nhưng trong vũ trụ thì ta không bị giới hạn bởi quy luật này. Trên thực tế, mọi thứ đều phải vừa là nó vừa không phải là nó. Ví dụ bây giờ tôi hỏi “Đây có phải cuốn sách không?” (AJ cầm cuốn sách lên). Thế thì không thể nào trả lời là đúng, nó là cuốn sách mà không phải là quả tạ. Nhưng trả lời thế là sai; nó là cuốn sách nhưng lại cũng không phải là cuốn sách. Đôi khi, câu trả lời duy nhất hợp lý là “that’s a bad question”.

- Anh nói không khác gì Phật. Đạo Phật sẽ nói chính xác là như thế - ít nhất là như tôi hiểu đến giờ. Không có cái gì là cái gì hết, mọi thứ mà ta nói là là-cái-này, là-cái-kia đều chỉ là quy ước, là phóng dật của tâm, là hình tướng, không phải là chính-nó. Anh nên gọi mình là Phật tử, không nên gọi mình là vô thần.

- Về mặt phương pháp tư duy thì tôi gần với đạo Phật, mà bản chất đạo Phật là vô thần; trong đạo Phật làm gì có Chúa nào đâu; quy trình rất khoa học: ta xuất phát từ một vấn đề/hiện tượng là khổ; ta đi đến giải thích tại sao khổ, rồi sau đó đi đến mô hình thoát khổ. Tôi có thể theo được cái đó.

- À nhưng mà nó không chỉ có thế; nếu anh đã theo thì anh phải theo toàn bộ, phải dùng toàn bộ nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáo, như vậy thì anh phải tin là có cuộc sống sau cái chết bởi vì Phật nói rõ là có cuộc sống sau cái chết của con người; mặc dù dĩ nhiên lúc đó ta phải hiểu rộng ra khái niệm “trước” và “sau”; phải định nghĩa lại khái niệm “chết” và phải hiểu lại cái gì chết, cái gì là “thế giới”.

- Nhưng mà như thế thì lại là vận hành trong một mô hình, và ta lại rơi vào cái hố là ta không thể chứng minh mô hình này tốt hơn mô hình kia. Bây giờ tôi bảo, không, không có cuộc sống sau cái chết, thế giới này hoàn toàn chịu sự điều khiển của một siêu nhân làm từ mỳ ống và thịt băm (spaghetti and meatball). Đây, ông ấy đang đứng ngay đây này, em không nhìn thấy à?

- Cái gì?

- Spaghetti monster? Đây này, ơ không nhìn thấy à?

- Đâu?

- Đây (chỉ vào khoảng không), ngay đây này. Em chưa nghe bao giờ à?

- Chưa.

- Trời ơi, toàn bộ thế giới này là do Chúa spaghetti điều khiển, Chúa này làm từ spaghetti và thịt bằm.

Đến đoạn này tôi buồn cười quá; tôi tưởng AJ bịa ra, nhưng AJ bảo không, không bịa, có cả một Đạo thờ Chúa Spaghetti và thịt bằm (Spaghetti Monterism). Nó dĩ nhiên xuất phát từ một chuyện có thật là một cậu sinh viên có tên Bobby Henderson muốn phản đối chuyện Phòng giáo dục của tiểu bang Kansas đồng ý cho các lớp học được dạy Kinh thánh thay cho dạy thuyết tiến hóa của Darwin vì đây là hai hệ thống có tính đúng đắn ngang nhau để giải thích về sự hình thành và phát triển của thế giới. Henderson nói rằng nếu dạy các thuyết sáng thế nhờ vào một đức Chúa thì sao không dạy thuyết nào khác – và bèn sáng tạo ra một đạo thờ một vị chúa làm từ mỳ ống và thịt bằm.

Cái mà Henderson đang nói đến là, nếu như không chứng minh được một cái gì đó là sai (ví dụ như Đạo Mỳ ống) thì không bác bỏ nó được, nó ngang bằng với các mô hình khác. Mọi thứ đều vẫn là các giả thuyết và các mô hình, chứ không phải là sự thật rốt ráo. Thế thì trong lớp học, cần phải chia thời gian: 1/3 thời gian dạy thuyết tiến hóa của Đác-uyn, một phần ba dạy thuyết sáng thế nhờ Chúa, và 1/3 thời gian dạy thuyết sáng thế nhờ Chúa Spaghetti. Hiện giờ có cả một cộng đồng đông người thờ Chúa Spaghetti để nói móc lại các đạo khác.

- Đấy – AJ nói - bây giờ tôi cũng mô tả mọi thứ về mô hình thế giới này; và nó cũng logic trong mô hình của nó; chỉ có khác là thay vì Chúa Giê-su hay Phật hay vị nào đấy, tôi nói Chúa này làm từ mỳ ống và thịt bằm. Giờ làm sao em chứng minh được là mô hình này sai, mô hình kia đúng.

Chúng tôi tranh luận một đoạn ở chỗ này, liên quan đến sự hạn chế của ngôn ngữ trong diễn tả những thứ không hạn chế; rồi là chuyện nếu chọn mô hình thì luôn chấp nhận các tiền đề/axioms; làm thế nào phân biệt được “biết” (knowing) và “tin” (believing); rồi đến các “thức” khác nhau theo quan điểm Phật giáo. Tôi nói tại sao Phật Thích Ca giác ngộ xong là nhập Niết Bàn, nếu không có ai thỉnh Phật trụ thế.

Loằng ngoằng một lúc sau, tôi hỏi AJ:

- Thế rút cục anh có nghĩ là anh biết cái gì không? (Do you think you know anything?)

- Không. Vì “biết” là cái gì? Giờ tôi cầm cuốn sách này lên, tôi thả tay ra; tôi có biết là nó rơi xuống đất không? Tôi không biết; tôi có thể nói tôi nghĩ là nhiều khả năng nó sẽ rơi, nhưng thực ra tôi không biết là nó sẽ rơi. Vì có thể một ngày đẹp trời nào đấy, nó cứ lơ lửng ở đây này. Tôi chỉ có thể có các kết luận về mặt thống kê, là tôi nghĩ khà năng nó rơi xuống rất lớn. Hoặc tôi có biết là em ngồi trước mặt tôi và đang nói chuyện với tôi không? Không, thực tế là không. Có thể tất cả những cái này chỉ là tưởng tượng. Có thể não tôi nó tưởng tượng ra bằng cách nào đó là có một cô gái tên là H đang ngồi đối diện tôi và nói chuyện với tôi thế này thế này. Có thể là tôi có nhu cầu nói chuyện nên não tôi sinh ra thế. Tôi có thể ra chạm vào em, nhưng cả cảm giác chạm vào đó chắc gì là thật, có thể chỉ là não tôi bảo là thật, trong bối cảnh là tôi đã tưởng tượng ra một cô H ngồi đây nói chuyện; nó không khác gì việc mình thấy mọi thứ trong mơ là thật. Hoặc cũng có thể là tôi đang vận hành theo một chương trình máy tính ai đó gắn vào não tôi; khi nào chương trình chạy thì tôi bắt đầu dựng lên một thế giới trong đó tôi là nhân viên làm việc ở chỗ này chỗ này, cha mẹ tôi là thế này thế này, tôi sống ở đây, tôi có một người bạn tên là H mà tôi hay gặp để nói chuyện thế này thế này, rồi ngày này ngày này tôi đi hiệu sách, ngày này ngày này tôi đi chợ, vân vân… Có thể hoàn toàn là vấn đề lập trình. Có thể toàn bộ là mơ; làm sao tôi biết là những thứ này thật và làm sao biết là tôi biết. Làm sao tôi biết là tôi có thật.

- Thì Phật nói chính xác như thế. Nhất thiết duy tâm tạo. Tâm sinh tướng; mọi thứ là hình tướng của tâm. Cái “ngã” cũng không có thật. Không có gì là “thật” theo nghĩa thật thật; cái mà ta thấy ở đây và ở trong mơ – hai cái thực tại này về bản chất không khác nhau.

- Tôi không biết nữa. Khi tôi đọc về Bertrand Russell, ông ấy cố gắng xây dựng một mô hình để có thể chứng minh mọi thứ là đúng hoặc sai, thì tôi thấy tôi có lối tư duy rất giống Russell, dĩ nhiên là ông ấy giỏi hơn và nổi tiếng hơn haha.

- Biết đâu anh là kiếp sau của ông ấy. Có thể kiếp trước anh chính là Russell, anh quay lại kiếp này để chứng minh cái gì đó; có thể 10 năm nữa anh sẽ phát hiện ra lý thuyết mới.

- Có thể; mà cũng có thể là tôi quay lại kiếp này chỉ để sống một cuộc sống đơn giản bình thường thôi; tôi không quan tâm đến nổi tiếng hay chứng minh gì nữa. Có thể toàn bộ mục đích của tôi khi đầu thai lại kiếp này là chỉ để ngồi nói chuyện với H về sự thật này, và thế thôi. Có thể toàn độ mục đích của cuộc đời tôi trong cái kiếp này chỉ là để có buổi tối hôm nay, là cuộc đối thoại này, and that’s it.

- Maybe... mà anh cũng có thể chọn toàn bộ mục đích cuộc đời anh là buổi tối này. That’s it.

- That’s it. Do you want some tea?